Ngày 09/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về Hạ tầng văn hóa số quy định chi tiết khoản 1, khoản 3 và khoản 5 Điều 10 Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, bao gồm: phát triển hạ tầng văn hóa số; cơ sở dữ liệu về văn hóa, kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, nền tảng số dùng chung trong lĩnh vực văn hóa; chính sách thu hút đầu tư, hỗ trợ phát triển công nghệ số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số; trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Với 05 chương và 20 điều, Nghị định đặt nền móng ban đầu cho việc phát triển hạ tầng văn hoá số, chính thức “khai sinh” nhiều nội dung quan trọng cho phát triển văn hoá; sản phẩm, dịch vụ văn hoá số và công tác quản lý nhà nước về văn hoá.
Cấu trúc cơ bản của Hạ tầng văn hóa số gồm 03 thành phần:
(1) Hạ tầng số: Phục vụ kết nối, truyền dẫn, xử lý theo quy định của pháp luật về chuyển đổi số, viễn thông, Internet;
(2) Hạ tầng dữ liệu văn hóa số: Phục vụ tạo lập, chuẩn hóa, quản trị, lưu trữ, kết nối, chia sẻ, phân tích, khai thác và sử dụng dữ liệu văn hóa số;
(3) Nền tảng số, hệ thống số, công cụ số phục vụ lợi ích công cộng của xã hội: Các phần mềm ứng dụng được vận hành rộng khắp nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích công cộng của toàn xã hội.
Hạ tầng văn hóa số có 08 vai trò:
(1) Bảo tồn di sản trong bối cảnh biến đổi nhanh: Hiện nay, nhiều giá trị văn hóa đang đứng trước nguy cơ mai một do tác động của thời gian, thiên tai, quá trình đô thị hóa và sự thay đổi của đời sống xã hội. Trước thực trạng đó, hạ tầng văn hóa số đóng vai trò then chốt giúp: (i) Số hóa hiện vật, di tích, tư liệu, nghệ thuật biểu diễn; (ii) Lưu trữ lâu dài theo chuẩn quốc tế; (iii) Phục dựng bằng AI, 3D, XR khi hiện vật bị hư hỏng; và (iv) Tạo “bản sao số” (Digital Twin) của di sản. Nhờ có những giải pháp công nghệ này, các giá trị văn hóa sẽ không bị mất đi ngay cả khi hiện vật gốc bị hủy hoại.
(2) Mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa: Trước đây, để thưởng thức và tìm hiểu văn hóa, người dân bắt buộc phải đến trực tiếp bảo tàng, thư viện hay nhà hát. Giờ đây, khi có hạ tầng văn hóa số, mọi người đều có thể dễ dàng tham quan bảo tàng trực tuyến; học nghệ thuật trên nền tảng số; xem các chương trình biểu diễn chất lượng cao và tra cứu di sản ở bất cứ đâu. Qua đó, văn hóa chính thức trở thành một dịch vụ công số phục vụ toàn dân.
(3) Tạo nguyên liệu cho A.I và kinh tế sáng tạo: Trong thời đại A.I, dữ liệu được ví như nguồn nguyên liệu cốt lõi. Nếu muốn A.I hiểu được chiều sâu văn hóa Việt Nam, chúng ta cần phải cung cấp cho hệ thống một kho dữ liệu tiếng Việt; dữ liệu di sản; dữ liệu nghệ thuật; dữ liệu lễ hội; dữ liệu âm nhạc; dữ liệu trang phục; dữ liệu mỹ thuật, …. Ngược lại, nếu không có hạ tầng dữ liệu văn hóa của riêng mình, A.I sẽ phải học chủ yếu từ dữ liệu nước ngoài và rất khó để phản ánh chính xác bản sắc Việt Nam.
(4) Thúc đẩy công nghiệp văn hóa: Tất cả các lĩnh vực từ phim, trò chơi điện tử, hoạt hình, âm nhạc, thiết kế cho đến quảng cáo, xuất bản… đều cần nguồn "vốn" dữ liệu văn hóa làm bệ đỡ. Một hạ tầng văn hóa số vận hành tốt sẽ giúp các doanh nghiệp khai thác dữ liệu hợp pháp; tái sử dụng tài nguyên số; từ đó giảm chi phí sáng tạo và phát triển thêm nhiều sản phẩm mới. Hạ tầng văn hóa số vì vậy giống như đường cao tốc của ngành công nghiệp văn hóa.
(5) Xây dựng thương hiệu quốc gia: Ngày nay, sức mạnh quốc gia không chỉ nằm ở các chỉ số kinh tế mà còn khẳng định qua sức hấp dẫn văn hóa. Những quốc gia thành công trên thế giới đều sở hữu một hệ sinh thái số quảng bá văn hóa mạnh mẽ: từ Hàn Quốc với làn sóng K-content; Nhật Bản với anime, manga cho đến Trung Quốc với nền tảng văn hóa số và game. Việt Nam muốn xây dựng một thương hiệu văn hóa số vững chắc thì cần một hạ tầng đủ mạnh để kết nối dòng dữ liệu, nội dung và doanh nghiệp. Hạ tầng văn hoá số chính là nền tảng giúp phát triển thương hiệu văn hoá số Việt Nam: VietCreative và VietGames.
(6) Tạo thị trường văn hóa số minh bạch: Nếu thiếu đi một hạ tầng đồng bộ, thị trường sẽ rất khó để xác định bản quyền; khó giao dịch tài sản số; khó chia sẻ doanh thu và bảo vệ quyền lợi của các nghệ sĩ, tác giả. Việc thiết lập hạ tầng văn hóa số cho phép hình thành cơ sở dữ liệu bản quyền; định danh tác phẩm; sàn giao dịch tài sản văn hóa số; cùng cơ chế thanh toán và phân chia lợi ích minh bạch. Đây chính là nền tảng của nền kinh tế văn hóa số.
(7) Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước: Hạ tầng số giúp cơ quan quản lý có thể theo dõi sát sao hoạt động văn hóa theo thời gian thực; thống kê chính xác số liệu ngành công nghiệp văn hóa; đánh giá tác động của các chính sách; phân tích xu hướng tiêu dùng văn hóa và dự báo nhu cầu thị trường. Công tác quản lý lúc này dịch chuyển mạnh mẽ từ dựa vào “kinh nghiệm” sang “quản trị dựa trên dữ liệu”.
(8) Bảo đảm chủ quyền văn hóa trên không gian số: Không gian mạng đang trở thành không gian văn hóa mới của nhân loại. Nếu Việt Nam không có hạ tầng của chính mình thì dữ liệu văn hóa sẽ phải nằm trên nền tảng nước ngoài; nội dung Việt Nam khó được ưu tiên; thuật toán nước ngoài sẽ quyết định khả năng tiếp cận của người dùng; dẫn đến nguy cơ lệ thuộc về dữ liệu và lan truyền các giá trị ngoại lai. Do đó, làm chủ hạ tầng là then chốt để bảo vệ chủ quyền văn hóa của chúng ta trên internet.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng xác định một số công nghệ số ưu tiên phát triển trong lĩnh vực văn hóa, bao gồm: (1) Điện toán đám mây (Cloud Computing); (2) Điện toán biên (Edge Computing); (3) Trí tuệ nhân tạo (AI); (4) Dữ liệu lớn (Big Data); (5) Bản sao số (Digital Twin); (6) Internet vạn vật (IoT); (7) Chuỗi khối (Blockchain); (8) Thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), thực tế mở rộng (XR), trải nghiệm nhập vai (IR), thực tế hỗn hợp (MR); (9) Công nghệ quét ba chiều (LiDAR), trắc lượng ảnh (Photogrammetry), hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình hóa thông tin (BIM/HBIМ); (10) Công nghệ số khác theo quy định của pháp luật.
Nghị định số 277/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày ký ban hành. Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải ban hành Kế hoạch tạo lập, chuẩn hóa dữ liệu văn hóa số và lộ trình kết nối vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia.
Chi tiết Nghị định số 277/2026/NĐ-CP xem tại đây.
HTVHS